ttxcc2

Thông Tin Tổng hợp

Sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc là mong manh hay bền vững?* (3)

Dù đã trải qua ba thập kỷ cải cách kinh tế, doanh nghiệp do Nhà nước – Đảng sở hữu hoặc kiểm soát vẫn chiếm đến 40% của GDP Trung Quốc. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, sự khống chế của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế còn tăng lên một tầm cao mới khi chính phủ dùng những biện pháp tài khoá và tiền tệ tích cực để giữ tốc độ tăng trưởng. Với một bó chính sách kích cầu gần 700 tỷ USD, cộng với 2000 tỷ USD vốn vay mới của ngân hàng, nhà nước Trung Quốc còn tăng thêm sức mạnh cho các doanh nghiêp nhà nước, trong lúc khu vực tư nhân thì co cụm.17

Tuy sự tiếp tục nhúng tay sâu rộng của nhà nước vào nền kinh tế gây ra nhiều mất mát khổng lồ về mặt hiệu năng, nó có những ích lợi chính trị rõ rệt. Đảng vẫn nắm quyền bổ nhiệm lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước và khả năng ban phát những ân huệ kinh tế béo bở cho những thành phần nòng cốt của đảng (công chức và các nhà kinh doanh có liên hệ đến giới tinh hoa cai trị). Đối với những thành viên của các nhóm này, sự đỡ đầu của Đảng Cộng sản đã cho họ lợi ích. Theo một nghiên cứu, các công ty có móc nối chính trị thường có giá chào cao hơn khi cổ phần của họ được niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc.18 Như thế, sự “đỡ đầu kinh tế”(economic patronage) phục vụ hai mục đích: Nó vừa là một công cụ chính yếu để ảnh hưởng các sinh hoạt kinh tế, vừa là một nguồn khích lệ để thu hút và giữ gìn sự trung thành của những người ủng hộ chính trị cốt cán của chế độ.

Ngoài việc nắm chặt đòn bẩy kinh tế, các chính quyền chuyên chế còn có thể kéo dài tuổi thọ bằng cách mở rộng cơ sở xã hội (social bases) của họ. Từ đầu thập kỷ 1990, ĐCSTQ đã khá thành công khi làm việc ấy, xây dựng một liên hiệp với các thành phần tinh hoa bằng cách mua chuộc, lôi kéo (cooptation) . Nâng cao địa vị chính trị của giới trí thức và tầng lớp chuyên gia, và cải thiện đời sống vật chất của họ ̶ đồng thời sử dụng quy định và cấm đoán để trừng phạt và ngăn cản những trí thức nào dám chống lại chế độ ̶ là những thành tố quan trọng nhất của chiến lược này.

Đảng cũng đồng bộ vận động để kết nạp trí thức và chuyên gia vào Đảng và ban thưởng cho những người này các chức vụ chuyên môn trọng yếu. Nổ lực ấy đã thành công chẳng những trong việc nâng cao năng lực chuyên môn của Đảng mà còn mở rộng cơ sở Đảng trong thành phần trí thức, một giai cấp xã hội tinh hoa mà trong thập kỷ 1980 đã có

nhiều bất đồng với Đảng về vấn đề cải cách chính trị. 19 Tuy nhiên, nỗ lực rùm beng để thu nạp các doanh nhân tư vào Đảng đã không giúp mở rộng cơ sở của Đảng như đối với giới trí thức và chuyên gia nói ở trên, bởi lẽ đa số những người sở hữu tư doanh ngoài nông nghiệp thì đã là Đảng viên rồi, và cũng đã lợi dụng quyền lực của họ để biến những tài sản sở hữu của nhà nước thành tài sản tư. Tuy nhiên, cũng đã có các nghiên cứu kết luận rằng ĐCSTQ tương đối thành công trong việc mua chuộc và lôi kéo các doanh nhân tư. Vài học giả thậm chí đã gọi những doanh nhân Trung Quốc là “đồng minh của nhà nước”20. Một nghiên cứu cho thấy những quan chức địa phương nào ủng hộ khu vực tư nhân thì thành công hơn trong việc gắn kết những doanh nhân tư vào cơ cấu quyền lực địa phương. 21

Chiến lược mua chuộc chính trị của ĐCSTQ đã thành công một cách không ngờ, khiến nhiều nhà quan sát kết luận rằng phần lớn giai cấp trung lưu đang xuất hiện ở Trung Quốc ưa chuộng tình trạng hiện thời. Ngoài việc bình định giai cấp trung lưu, ĐCSTQ cũng thay đổi được thành phần cơ sở đảng viên của họ. Vào thời Mao, phần lớn đảng viên ĐCSTQ là nông dân và công nhân, nhưng bây giờ thì Đảng là của giới tinh hoa. Theo con số chính thức công bố năm 2010, xấp xỉ 10% trong số 78 triệu đảng viên vào cuối năm 2009 là công nhân và 20% là nông dân. Bảy mươi phần trăm còn lại là công chức, các nhà quản lý, cán bộ hưu trí, chuyên gia, sinh viên đại học, và trí thức. Đặc biệt đáng kể là tỷ lệ khá lớn của thành phần có học vấn cao trong ĐCSTQ –36% đảng viên là đã tốt nghiệp đại học hoặc có chút ít giáo dục đại học, và 15% là những chuyên gia quản lý, kỹ thuật, những nhà chuyên môn các ngành khác, và sinh viên đại học.22 Để so sánh, không đến 8% tổng số dân Trung Quốc là có giáo dục đại học. Nói ngắn gọn, sự mua chuộc chính trị đã biến Đảng thành một liên minh mà nền tảng là giới tinh hoa. Sự tích hợp giữa một bên là các thành phần tinh hoa trọng yếu và bên kia là chế độ chuyên chế, đã đem lại lợi ích chính trị đáng kể cho những người cai trị. Trong số các lợi ích ấy là: những thành phần có thể chống đối không thể tiếp cận với các tinh hoa xã hội, và gây thêm rất nhiều khó khăn cho những nhóm có vị thế thấp nếu các nhóm này muốn tổ chức và trở nên những lực lượng chính trị hữu hiệu.

Phía sau bề mặt của sức mạnh chuyên chế

Có một sự khác biệt rõ rệt và gợi tò mò giữa sức mạnh của các chế độ chuyên chế như được đánh giá bởi các quan sát viên bên ngoài và mức độ bất an mà chính những nhà cầm quyền chuyên chế cảm thấy. Các lãnh tụ độc tài luôn luôn cảnh giác đề phòng những thế lực đe doạ dù hết sức bé nhỏ cho sự cai trị của họ. Họ chi tiêu những nguồn lực khổng lồ và có những biện pháp trấn áp cực kỳ cứng rắn để bảo vệ sự cai trị ấy. Nhưng nếu chế độ chuyên chế thực sự là mạnh thì những biện pháp tốn kém như thế, mà động lực là cảm giác bất an, sẽ tự gây thất bại và phản tác dụng. Những biện pháp ấy sẽ là không cần thiết và, qua việc phung phí nguồn lực hiếm hoi của chế độ, sẽ ngấm ngầm xói mòn khả năng tồn tại dài lâu của chế độ. Thế thì tại sao có sự khác biệt (giữa nhận định bên ngoài và cảm giác bên trong) này? Câu trả lời rất là đơn giản: Cái sức mạnh của chuyên chế mà người bên ngoài nhìn thấy chỉ là một ảo ảnh mà thôi. Những người bên trong –chính những lãnh tụ độc tài –có thông tin về các nhược điểm của chế độ mà người bên ngoài ít biết đến. Những nhược điểm này khiến các nhà độc tài cảm thấy bất an và làm họ cư xử như vậy trong sự bất an ấy.

Tính bền vững của chế độ chuyên chế Trung Quốc có thể là một hiện tượng tạm thời, mà định mệnh bắt buộc sẽ sụp đổ vì những hụt hẫng có tính thể chế và hệ thống của chế độ ấy. Không thể nào sửa đổi những hụt hẫng này vì chúng là bản chất của hệ thống chuyên chế. Vì thế, những biện pháp mà ĐCSTQ đã áp dụng từ đầu thập kỷ 1990 để củng cố sự cai trị của họ (không nói đến việc chúng có hiệu lực đến đâu) chỉ có tác động là làm giảm bớt phần nào những hậu quả nguy hại mà những hụt hẫng nói trên đã gây ra đối với sự sống còn của chế độ. Về lâu về dài, chế độ chuyên chế của Trung Quốc đa phần là sẽ mất đi sự bền vững của nó.

Oái oăm là, chính sự thành công ngắn hạn của chế độ chuyên chế có thể làm suy giảm khả năng tồn tại và hiệu quả dài hạn của chế độ ấy. Thành công, định nghĩa như là khả năng của chế độ để đập tan đối lập và bảo vệ độc quyền chính trị, có nhiều khả năng sẽ khiến những lãnh tụ chuyên chế, không bị ràng buộc bởi đối lập chính trị và bất chấp luật pháp, có những hành động cướp bóc và trộm cắp, và do đó sẽ không tránh khỏi làm yếu đi khả năng tồn tại lâu dài của chế độ.

Vì nhiều lý do, những chế độ chuyên chế có khuynh huớng sinh ra tham nhũng. Một lý do chính là tầm nhìn tương đối ngắn của những nhà độc tài, là những người mà quyền hành cầm trong tay không vững, không chắc, và không bảo đảm. Ngay ở những quốc gia có tình trạng tương đối khả quan vì quy trình chuyển giao quyền lực và thăng thưởng là rõ ràng, như ở Trung Quốc, sự khả quan ấy chỉ là tương đối so với tình trạng trước đây. Sự trao quyền cho người kế nhiệm ở cấp tối cao vẫn còn mờ đục và không thể đoán trước. Mặc dù những người lãnh đạo chóp bu đã dàn xếp, mặc cả với nhau, để có những sự thoả thuận, do đó tránh những tranh giành quyền lực gây bất ổn, chính trị thừa kế vẫn ngập chìm trong bí ẩn và chủ nghĩa bè phái, cục bộ. Trong trường hợp thăng chức, chỉ tiêu khách quan duy nhất có vẻ là tuổi tác: mọi yếu tố khác –những yếu tố được giả định là căn cứ trên năng lực –đều có thể được “mưu tính”. Việc nhiều quan chức được lên cao là nhờ đút lót cho thấy rằng sự thiên vị cá nhân tiếp tục có vai trò quan trọng trong những quyết định bổ nhiệm trong nội bộ Đảng.

Tất cả những điều trên đây gây bất trắc cho tương lai chính trị của đảng viên ở mọi cấp của ĐCSTQ và do đó khuyến khích lối hành xử cướp giật ở họ. Nhiều bằng chứng cho thấy tham nhũng ở Trung Quốc đã trầm trọng hơn trong những năm gần đây, bất kể các chiến dịch chống tham nhũng mà ĐCSTQ vẫn thường khởi xướng.23 Quan trọng hơn, vì sự can thiệp sâu và rộng của Đảng –Nhà nước Trung Quốc vào nền kinh tế, sự kết hợp giữa động cơ (thúc đẩy bằng cảm nhận cái bất trắc của tương lai) và cơ hội (gần gũi với những món “tô kinh tế”) có thể sinh ra một môi trường lý tưởng cho thành phần “tay trong”của Đảng tham gia vào những hoạt động thông đồng, cướp giật, và trộm cắp.

Tham nhũng đe doạ sự tồn tại lâu dài của những chính quyền chuyên chế bằng nhiều cách. Nó là trở ngại cho tăng trưởng kinh tế, và như thế làm suy giảm tính chính danh chính trị của chế độ cũng như khả năng chi tiêu của nhà nước cho một hệ thống đỡ đầu tốn kém và cho bộ máy đàn áp rộng lớn của họ. Tham nhũng cũng là một nguyên nhân gia tăng bất bình đẳng thu nhập, bởi lẽ nó sẽ có lợi cho một thiểu số giai cấp tinh hoa có móc nối, thiệt hại cho an sinh cộng đồng, và do đó sẽ tăng ác cảm đối với chế độ, khiến xã hội thêm căng thẳng. Tham nhũng cũng tạo một môi trường nhiều rủi ro, làm khó khăn hơn việc thực thi những luật lệ về lao động, về thực phẩm và thuốc men, về an toàn môi trường, do đó tăng thêm những rủi ro về tai nạn và thảm hoạ, và cũng gia tăng khả năng đối phó kém cỏi của chính phủ đối với những sự cố ấy.24

Giới hạn của sự mua chuộc chính trị

Tự bản chất, chính thể chuyên chế là một kết cấu chính trị có tính loại trừ. Dù sự hội nhập các tinh hoa xã hội vào chế độ ấy có thể đem lại một số lợi ích ngắn hạn cho những người cai trị, đó là một chính sách tốn kém và rốt cuộc là không bền vững, bởi lẽ tiến trình hiện đại hoá sẽ phát sinh những tinh hoa xã hội nhanh chóng hơn là tốc độ mà những nhà cai trị độc tài có thể mua chuộc, lôi kéo. Không sớm thì muộn, chế độ sẽ không còn khả năng mua chuộc đông đảo tinh hoa xã hội, do đó tạo ra
một thành phần tiềm thế của những lãnh tụ đối lập.

_______________________________________________________________________________

17 Barry Naughton, “China’s Economic Policy Today: The New State Activism,”Eurasian Geography and Economics 52 (tháng 5-6, 2011): 313-329. 18 Bill Francis, Iftekar Hassan, và Xian Sun, “Political Connections and the Process of Going Public: Evidence from China,”Journal of International Money and Finance 28 (tháng 6, 2009): 696-719..

19 Xem Cheng Li, “The Chinese Communist Party: Recruiting and Controlling the New Elites,”Journal of Current Chinese Affairs 38, số 3 (2009): 13-33.

20 Jie Chen và Bruce J. Dickson, Allies of the State: China’s Private Entrepreneis and Democratic Change (Cambridge: Harvard University Press, 2010).

21 Björn Akperman, “ʻWrapped up in Cotton Wood’: Political Inegration of Private Entrepreneurs in Rural China,”China Journal 56 (tháng 7, 2006): 33-61.

22 Tân Hoa Xã, 28 tháng 6 năm 2010.

23 Andrew Weideman, “Anticorruption campaigns and the Intensifiaction of Corruption in China,”Journal of Contemporary China 14 (tháng 2, 2005), 93- 116.

24 Xem Yan Sun, Corruption and Market in Contemporarty China (Ithaca: Cornell University Press, 2004)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: