ttxcc2

Thông Tin Tổng hợp

Sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc là mong manh hay bền vững?* (2)

Nếu không có một đối lập mạnh mẽ, hoặc nếu trấn áp tàn bạo, thì một chế độ chuyên chế bệu rệu –nghĩa là một chế độ không có tính chính đáng cao dựa vào thể chế hoá hoặc căn cứ trên thành tích –vẫn có thể bám giữ quyền lực lâu dài. Hãy xem, chẳng hạn, chế độ độc tài trưởng thượng của ông già Robert Mugabe ở Zimbabwe. Khó có thể nói rằng chế độ ấy là một chế độ chuyên chế bền vững! Vậy thì, rốt cuộc, cái gì tạo nên sự bền vững của một chế độ? Trường thọ có lẽ là tiêu chuẩn thường dùng nhất, và với tiêu chuẩn này thì những chế độ ở Myanmar11, Cuba, và Bắc Triều Tiên phải được xem là bền vững. Song bởi lẽ cụm từ “bền vững”ám chỉ sức mạnh và khả năng chịu đựng và khắc phục nghịch cảnh, cụm từ “sự sống sót của chế độ”chỉ phản ảnh một (trong nhiều) khía cạnh của tính bền vững. Sự thực là, những chế độ ấy có vẻ như luôn luôn trong tình huống bị đe doạ, một trạng thái khủng hoảng và bất an thường trực. Như vậy, khó mà gọi những chế độ ấy là bền vững. Ngay đối với những chế độ tuơng đối thành công –Trung Quốc và ít hơn một chút là Nga –cũng có nhiều ý kiến khác nhau về mức độ bền vững của họ. Trong trường hợp Trung Quốc, chẳng hạn, ĐCSTQ phải đối phó hàng ngày với những thách thức và xáo trộn, từ hàng trăm vụ phản kháng ở địa phương đến những tai nạn và thảm hoạ mà nguyên nhân là tham nhũng và bất tài. Đảng bị bắt buộc chi tiêu một số lượng nguồn lực khổng lồ để giữ gìn trật tự trong nước.

 

Sự bền vững của một chế độ chuyên chế, dù định nghĩa cách nào, cũng có thể là kết quả của những chiến thuật để tồn tại mà hiệu lực đã được chứng thực qua kinh nghiệm, thay vì do những chiến lược chính trị mới mẻ của chế độ ấy. Nhiều nghiên cứu đã chú trọng đến (i) việc các lãnh tụ chuyên chế dựa vào những cuộc bầu cử “cạnh tranh nửa vời”để chính đáng hoá quyền lực của họ và (ii) thành công của các chế độ chuyên chế trong sự sắp xếp trình tự kế nhiệm và thăng thưởng những thành phần ưu tú của chế độ.12 Tuy nhiên, các biến số (variable) quan trọng hơn cả những yếu tố trên đây là: sự đỡ đầu kinh tế, sự mua chuộc chính trị, và sự đàn áp đầy hiệu quả và không khoan nhượng. Dù với tất cả những thành công và sức mạnh mà ta cảm thấy ở họ, các chế độ chuyên chế đã không thể giải quyết một cách hữu hiệu những nhược điểm có tính hệ thống mà mọi người đều thấy, đe doạ sự tồn tại lâu dài của chế độ và hạn chế số chính sách mà chế độ có thể lựa chọn để đáp ứng đòi hỏi của dân chúng. Những nhược điểm ấy gồm sự bất chính danh về chính trị; tham nhũng tràn lan mà nguyên nhân là sự thiếu trách nhiệm chính trị (khi mà người phạm lỗi chẳng bị hề hấn gì) và sự lệch pha giữa lợi ích của chế độ (nói chung) và lợi ích của tay chân chế độ ấy; việc giai cấp trung lưu bị đẩy ra ngoài chính trị, và các chính sách “săn mồi”của nhà nước –những chính sách biến các nhóm xã hội bị thiệt thòi thành nạn nhân và khiến họ tha hoá. Chừng nào mà những nhược điểm có tính hệ thống như thế còn tồn tại trong một chế độ chuyên chế thì chế độ ấy còn khó giữ được sự bền vững.

 

Phải nhìn nhận rằng vài chế độ chuyên chế đã tăng cường khả năng sinh tồn của họ bằng cách cải tiến các quy luật nội bộ về thể thức truyền nhiệm và thăng thưởng, rút những bài học có ích từ sự thành công hoặc thất bại của những chế độ chuyên chế khác, kiện toàn cơ cấu hành chính nhà nước, và sắp xếp để hạn chế sự cung cấp những “hàng hoá phối hợp”. Không thể phủ nhận rằng những chế độ chuyên chế như thế là tinh vi về mặt thể chế lẫn chiến thuật so với những chế độ độc tài làng nhàng ở các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, một lý giải về sự sống sót của những chế độ chuyên chế bền vững không thể chỉ gồm những yếu tố ấy; lý giải đó còn cần phân tích những yếu tố đã giúp các chế độ ấy giữ quyền lực, cũng như nhận định về những thế lực đe doạ sự tồn tại lâu dài của chúng. Đối với các nền chuyên chế đương đại, một tiếp cận phân tích có tính tổng thể như thế có nhiều khả năng phát hiện những hiểu biết sâu sắc hơn về động học chính trị (political dynamics) của sự sống còn cũng như sự sụp đổ của chế độ.

 

Đặc biệt, chúng ta nên cứu xét những lý giải đơn giản hơn, trực tiếp hơn, về sự sống sót của các chế độ chuyên chế ̶ thành tích kinh tế, chẳng hạn. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng, nếu mọi yếu tố đều như nhau, thì những chế độ chuyên chế nào mà, bằng cách nào đó, đã có một thành tích kinh tế tốt, là có khả năng tồn tại lâu dài hơn.13 Hiển nhiên, các chế độ chuyên chế sẽ có được tính chính danh về chính trị nếu mức sống của người dân tăng lên nhờ tăng trưởng kinh tế bền vững. Chế độ ấy có thể dùng những lợi tức (rents) sinh ta từ đó để mua chuộc giới trung lưu và tái phân phối những lợi ích của tăng trưởng cho giới tinh hoa cai trị, do đó sẽ làm giảm đi những tranh giành nội bộ để chia nhau một số lượng lợi lộc ít nhiều là cố định. Tăng trưởng kinh tế bền vững trong một chế độ chuyên chế cũng cho phép giai cấp cai trị chi tiêu và giữ một bộ máy đàn áp rộng lớn để đè nén đối lập chính trị.

 

Một giải thích đơn giản nữa là chế độ càng có nhiều chọn lựa trong số các chính sách sống còn –danh mục các phương pháp để nắm giữ quyền lực càng đa dạng –thì càng có khả năng sống lâu. Vũ lực không thôi có thể giúp củng cố vài chế độ chuyên chế, song dựa nhiều vào đàn áp có thể là tốn kém. Hơn nữa, nguồn lực chi tiêu cho một lực lượng quân đội và công an rộng lớn có thể được dùng (một cách hữu hiệu hơn) vào những chiến lược sống còn không sử dụng đàn áp, chẳng hạn như mua chuộc đối lập và ban phát lợi lộc trong một hệ thống đỡ đầu (patronage). Những chế độ có độ đàn áp cao cũng sẽ khó có khả năng tạo lòng tin ở các doanh nghiệp tư nhân, hoặc để tạo cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp này. Robert Barro đã khám phá rằng đàn áp nặng nề sẽ làm tăng trưởng kinh tế chậm lại, trong khi đàn áp “vừa phải”có thể có ảnh hưởng tích cực.14 Những chế độ chuyên chế chỉ dựa vào đàn áp thì thường có thành quả kinh tế vô cùng thấp kém, gieo hạt giống bất mãn trong dân chúng và bào mòn tính chính danh của chế độ.

 

Cho dù thành tích kinh tế của một chế độ chuyên chế có là thoả đáng, và chiến lược lẫn chiến thuật sống sót của họ là tinh xảo, thì chế độ ấy cũng còn phải đối phó với những nhược điểm tự thân của chuyên chế: một là, sự thiếu vắng tính chính danh theo quy trình (procedural legitimacy), hai là, một cơ sở ủng hộ nhỏ hẹp từ xã hội, ba là, sự lệch pha trầm trọng về lợi ích giữa tổng thể của chế độ và tay chân của chính chế độ ấy, và bốn là, tham nhũng trong chế độ ấy có tính hệ thống và rộng khắp. Những nhược điểm ấy đe doạ sự tồn tại lâu dài của chuyên chế. Như vậy, nếu một chế độ chuyên chế nào biểu lộ sự bền vững thì hầu như chắc chắn rằng đó chỉ là một hiện tượng lâm thời, che giấu những nhược điểm đưa đến cái chết của chế độ ấy.

 

Bí quyết của sự tồn tại của ĐCSTQ

Ba bí quyết cho sự tồn tại của ĐCSTQ là (1) đàn áp tinh xảo, (2) chủ nghĩa kinh tế nhà nước, và (3) mua chuộc chính trị. Những người chủ xướng lý thuyết về khả năng phục hồi của các chế độ chuyên chế thường bỏ qua vai trò của họ, hoặc cho nó là nhỏ. Dù các chính quyền chuyên chế có thể dùng những biện pháp khác (đôi khi tinh xảo hơn) để giữ quyền hành, biện pháp quan trọng nhất vẫn là sử dụng vũ lực đối với những người chống đối họ. Không chế độ chuyên chế nào có thể tồn tại mà không dựa vào đàn áp. Sự khác biệt giữa những chế độ chuyên chế thành công nhiều và thành công ít phần lớn là ở cách họ đàn áp. Những chế độ chuyên chế khá thành công thì trấn áp có chọn lọc, và hữu hiệu, trong khi những chế độ chuyên chế ít thành công thì thường đàn áp phe đối lập một cách thô bạo hơn, lãng phí hơn, và bằng những cách kém hiệu quả hơn.

 

Từ những năm đầu của thập kỷ 1990, Trung Quốc đã chuyển sang chính sách “đàn áp khôn ngoan”. ĐCSTQ đã thu hẹp lĩnh vực trấn áp và chuyển dịch tâm điểm các biện pháp đàn áp của họ. Trong khi vẫn tiếp tục hạn chế tự do chính trị và các quyền dân sự của người dân, ĐCSTQ hầu như hoàn toàn không còn đụng chạm gì đến đời tư của dân chúng và chấm dứt xen vào những vấn đề liên quan đến lối sống. Cùng lúc ấy, nhà cầm quyền đã vạch ra một đường ranh rõ ràng đối với các phong trào đối lập chính trị có tổ chức, thành phần mà họ không khoan nhượng dưới bất cứ hình thức nào.

Trấn áp có chọn lọc, chẳng hạn như sự đàn áp tàn bạo nhóm bán tôn giáo Pháp Luân Công, hoặc nhắm vào những người chống đối chủ chốt, vừa tránh được sự bất bình của đa số dân chúng, mà vẫn đạt được các mục đích “chặt đầu chính trị”và ngăn chặn sự xuất hiện của đối lập có tổ chức. Chiến thuật này cũng giúp nhà cầm quyền không phung phí những “nguồn lực đàn áp”của họ và sử dụng những nguồn lực ấy một cách hữu hiệu hơn. Chế độ của ĐCSTQ đã áp dụng một cách có chọn lọc hơn các cuộc trừng trị ác nghiệt, chẳng những vì họ đã rút kinh nghiệm từ những biến cố năm 1989 mà còn nhờ sự phân tán thể chế của Đảng-Nhà nước. Đặc tính quyền hành đa tầng của Trung Quốc cho phép chế độ ấy tránh: hoặc là (a) đàn áp quá trớn, hoặc là (b) nhượng bộ không cần thiết những cuộc phản kháng được nhiều ủng hộ của quần chúng.

 

Chiến thuật trấn áp của chế độ cũng thêm tinh xảo, dù Đảng vẫn không chút nhân nhượng trong việc nắm chặt độc quyền chính trị của họ. Bây giờ thì Đảng chuộng một tiếp cận ít tàn bạo hơn, chẳng hạn như ép buộc những nhân vật chống đối có ảnh hưởng phải lưu vong ở nước ngoài, thay vì bỏ tù họ lâu dài. Sự sách nhiễu hàng ngày những người tranh đấu cho nhân quyền cũng như các nhà đối kháng chính trị được thực hiện một cách “ôn hoà”hơn: một biện pháp thường được dùng là mời họ đi uống trà với công an. Tương tự, phương pháp mà chế độ đối phó với những xáo trộn xã hội (ngày càng tăng) cũng trở nên tinh vi hơn. Phải đương đầu với hàng trăm vụ biểu tình, phản kháng mỗi ngày, Đảng- Nhà nước đã cho thấy rằng họ có một khả năng đáng kể để điều động những biện pháp hết sức hữu hiệu, chẳng hạn như nhanh chóng bắt giữ những lãnh tụ phản kháng để “trảm”những rối loạn địa phuơng, giải tán các cuộc tụ tập, và trấn an các đám đông.15

 

Cố gắng của chế độ để uốn nắn dư luận quần chúng cũng đã trở nên rất đa dạng –một kết hợp của kiểm duyệt nghiêm ngặt và vận động để có sự ủng hộ của người dân. Thay vì chỉ bắt buộc học tập ý thức hệ như xưa, tuyên truyền của ĐCSTQ trong những năm gần đây đã biết cách gây ảnh hưởng lên các vấn đề mà xã hội quan tâm bằng cách biểu dương thành tích của Đảng trong việc đối phó với những vấn đề xã hội, chẳng hạn như giá thuê nhà lên cao, hoặc là việc ngày càng khó nhận lãnh các dịch vụ y tế. Dù tiếp cận này không luôn luôn thành công, nó là một ví dụ rõ ràng cho thấy ĐCSTQ ngày càng tinh tế.

Qua những khoản đầu tư khổng lồ cho nhân lực, công nghệ, và huấn luyện, ĐCSTQ đã mạnh mẽ tăng cường khả năng tác nghiệp của các lực lượng an ninh, những lực lượng vốn đã có ngân quỹ dồi dào, trang bị đầy đủ, và được huấn luyện kỹ lưỡng. ĐCSTQ đã đối phó với sự xuất hiện của những nguy cơ mới, chẳng hạn như công nghệ thông tin và viễn thông, bằng các biện pháp phòng chống khá hữu hiệu. Những biện pháp này gồm các quy định điều tiết cũng như những thủ thuật công nghệ. Bằng cách ấy, chế độ đã ngăn chặn các ảnh hưởng chính trị của cuộc cách mạng thông tin, dù họ phải dùng những chiến thuật mới để thực hiện việc này. Thay vì để dòng chảy thông tin tuột ra ngoài tầm kiểm soát của họ, công tác tuyên truyền của ĐCSTQ đã trở nên tinh xảo hơn, giúp ĐCSTQ giữ gìn bá quyền chính trị của Đảng.

 

Khả năng vận hành của Đảng để đối phó với những tai ương bất ngờ cũng đã tốt hơn trong thập kỷ vừa qua. Vào năm 2003, khi bệnh dịch SARS bùng nổ, Trung Quốc phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng y tế công cộng trầm trọng nhất từ khi Cách mạng Văn hoá. Các phản ứng ban đầu của chính phủ là bất lực và vô hiệu quả. Tuy nhiên, sau khi thay thế một số quan chức cao cấp then chốt, chế độ đã nhanh chóng lật ngược tình hình. Thiên tai, đại nạn, chống đối, và những sự cố tương tự là rất thường xảy ra ở Trung Quốc. Nhờ đối phó tốt với những tình trạng khẩn cấp như thế, các cú sốc thường xảy ra ấy đã không gây nhiều tổn thương cho sự cai trị của ĐCSTQ.

 

ĐCSTQ hoàn toàn thấu hiểu liên hệ chặt chẽ giữa sự sống còn chính trị và quyền kiểm soát nguồn lực kinh tế của quốc gia. Nếu không có quyền ban phát bổng lộc kinh tế, chắc chắn là Đảng sẽ mất sự trung thành của đảng viên và khả năng bám giữ quyền lực. Vì thế, ĐCSTQ giữ quyển kiểm soát sâu rộng và chặt chẽ các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc để Đảng có thể ban phát ân huệ chính trị.16 Điều này có nghĩa là từ bản chất, ĐCSTQ không thể thực thi những cải cách có định hướng thị trường vượt một mức độ nhất định, bởi lẽ những cải cách ấy sẽ đưa đến kết quả tối hậu là ngấm ngầm hủy hoại cơ sở chính trị của Đảng. Sự chững lại của cải cách kinh tế Trung Quốc trong những năm gần đây đã chứng tỏ điều này. Thực vậy, chẳng những Đảng đã công khai cho biết ý định của họ là nắm giữ quyền điều hành những lĩnh vực kinh tế chủ chốt như tài chính, năng lượng, viễn thông, và vận tải, nhưng họ còn bảo vệ những độc quyền hoặc thiểu quyền (oligopoly) này chống lại cạnh tranh từ trong nước lẫn nước ngoài. Doanh nghiệp nhà nước khống chế những lĩnh vực này, trong khi doanh nghiệp tư nhân và cạnh tranh từ nước ngoài bị ngăn cản. Những chính sách như thế làm trì hoãn tốc độ tư hữu hoá, nhưng chúng cho phép nhà nước tiếp tục là chủ thể kinh tế hùng mạnh nhất của quốc gia.

______________________________________________________________________________

11 Chú thích của người dịch: Tác giả viết bài này trước khi có cuộc cách mạng gần đây ở quốc gia này.

12 Xem Steven Levitsky và Lucan A. Way, “Election Without Democracy:The Rise of Competitive Authoritarianism,”Journal of Democracy 12 (tháng 4, 2002), 51-65

13 Adam Przeworski và các đồng tác giả, Democracy and Development: Political Institutions and Well-Being in the World, 1950-1990 (New York: Cambridge University Press, 2000)

14 Robert J. Barro, “Democracy and Growth,”Journal of Economic Growth 1 (tháng ba 1996): 1-27

15 Xem Murray Scot Tanner, “Chinese Government Responses to Rising Social Unrest”, Điều trần trước US-China Economic and Security Review Committee, 14 tháng 4, 2005.

16 Xem Richard McGregor, The Party: he Secret World of China’s Communist Rulers, NY:Harpers, 2010

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: